Khi hội nhập và công dân toàn cầu là mục tiêu chung của toàn xã hội, người Việt trẻ giao tiếp mạng xã hội nhiều hơn, thường xuyên sử dụng tài liệu tiếng Anh... đã góp phần đẩy tiếng Việt vào thời kỳ “quá độ”. Quá độ để đi lên cái gì thì tôi cũng không biết, nhưng chắc chắn những ngôn ngữ mạng, các từ tiếng Anh dùng một cách lười biếng theo số đông, sự nghèo nàn ngôn ngữ trong câu nói, câu viết hằng ngày, đang là những lý do góp phần gây nên nỗi buồn cho tiếng Việt.
Dạo một vòng quanh khuôn viên trường đại học nọ, chúng ta dễ dàng nghe thấy nhiều từ tiếng Việt đã bị bỏ quên gần như hoàn toàn: “Vắng mặt” bị thay bằng “absent”, “dự án” - “project” , “báo cáo” - “report”, “kế hoạch” - “plan”, “thuyết trình” - “present”, “kinh doanh” - “business”… Tên của các môn học thì miễn bàn, nếu tôi gọi tên môn học là "Thiết kế phần mềm", hẳn sẽ có người mất một lúc mới hiểu vì trong trường chỉ gọi nó là "Software Design" thôi.
Ra khỏi khuôn viên trường đại học, tôi thu được "hàng thúng" từ tiếng Anh khi nói chuyện với những người bạn đi du học về. Không ít trong số đó lấy lý do rằng ngôn từ là công cụ để giao tiếp, chỉ cần anh hiểu, tôi hiểu thì sử dụng ngôn ngữ nào cũng được. Chắc vì lý do đấy nên người ta chẳng thèm nói “hồi âm” hay “trả lời” thư điện tử nữa, “reply” email cho nhanh, “post” thay vì “đăng”, hay “comment” thay vì “nhận xét”. Cấm sao được, bởi dùng từ gì là quyền tự do cá nhân.
- “Juliet yêu quý, sao em vẫn đẹp làm vậy! Phải chăng thần chết cũng si tình, và cái bóng ma xương xẩu hãi hùng đó muốn giữ em trong cõi âm u này để tính chuyện ái ân?”.
Tình cờ được xem đoạn chính kịch tập bởi một lớp sinh viên, tôi chợt cảm thấy xốn xang khó tả, có lẽ là xúc động. Xúc động vì được nghe những âm thanh hay đến như vậy thốt ra bởi một sinh viên, vì những câu từ tiếng Việt súc tích, truyền cảm, không biết từ bao lâu rồi, đã bị đẩy vào xó tâm trí của các bạn trẻ và gần như không được lấy ra sử dụng. Hay xúc động vì từ rất lâu rồi sinh viên chỉ quen đưa những câu nói bông đùa thiếu sâu sắc, những từ lóng, những ngôn ngữ chọc cười mờ nhạt, thậm chí phản cảm, lên sân khấu hào sảng để mua vui.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nghiêm khắc nhắc nhở các nhà báo đương thời khi quá lạm dụng các “từ mượn” ngoại ngữ: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó ngày càng phổ biến và rộng khắp... Của mình có mà lại không dùng, phải đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen thói ỷ lại hay sao?”.
Hay như nhà báo Đoàn Công Lê Huy cũng từng trò chuyện cùng học sinh sinh viên: Dùng các từ tiếng Anh hay bất kỳ thứ tiếng nào khác để thay cho tiếng Việt chẳng chứng tỏ trình độ học vấn cao hay sự chuyên nghiệp. Nó chỉ chứng tỏ tiếng Việt mình yếu kém và thiếu phong phú hơn các ngôn ngữ khác mà thôi…
Tôi từng nghe chuyện các sinh viên Thái Lan bỏ nhiều công sức ra để tìm và phổ biến rộng rãi tên cái “bao cao su” bằng tiếng Thái, chứ không dùng từ “condom” nữa. Rõ ràng trên con đường hội nhập và phát triển, chúng ta không tránh khỏi việc tạm dùng những từ ngữ chuyên môn có nguồn gốc nước ngoài, khi chưa tìm được từ tiếng Việt diễn tả được hết ý nghĩa của nó, không tránh khỏi việc dùng thêm rất nhiều “từ mượn” trong khi tiếng Việt sẵn có. Tuy nhiên, tiếp tục sử dụng những từ ngữ ấy một cách thụ động, hay sáng tạo để mà đánh bóng lại, như Bác Hồ đã nói, thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý giá của dân tộc? Câu trả lời hẳn phải chờ thế hệ trẻ, nhất là những người đang ở trong đội ngũ mới được khen là “Đoàn quân tiên phong”.
Hồ Ngọc Sơn
Ý kiến
()